
Sinh non là vấn đề y tế nghiêm trọng và gây nhiều hệ lụy về sức khỏe cho trẻ. Tỷ lệ sinh non trong hỗ trợ sinh sản đã được báo cáo là cao hơn so với thai tự nhiên, đặc biệt là đa thai. Do đó dự phòng cần dược quản lý nghiêm ngặt ngay từ đầu khi bạn canh niêm mạc chuyển phôi.
Cần hiểu rằng, khi mang thai bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), thai phụ mặc định được xếp vào nhóm có nguy cơ sinh non, dù là đơn thai hay đa thai. Thai kỳ IVF luôn được xem là thai kỳ nguy cơ cao, với tỷ lệ mắc các bệnh lý như tiền sản giật, đái tháo đường thai kỳ, thai chậm tăng trưởng trong tử cung… cao hơn so với thai tự nhiên.
Bên cạnh đó, việc tự nhận biết các yếu tố nguy cơ sinh non cũng rất quan trọng, bao gồm: tiền sử sinh non, tiền sử khoét chóp cổ tử cung, cổ tử cung ngắn… Khi nắm rõ nguy cơ của bản thân, thai phụ cần chủ động trao đổi với bác sĩ trong mỗi lần khám thai để có kế hoạch theo dõi phù hợp. Việc theo dõi thai kỳ IVF nên được thực hiện bởi bác sĩ sản khoa có kinh nghiệm.
Theo dõi chiều dài cổ tử cung - dấu hiệu dự báo sinh non quan trọng nhất
Cổ tử cung là cấu trúc hình phễu, nối giữa tử cung và âm đạo. Chiều dài kênh cổ tử cung bình thường 4-5 cm. Trong thai kỳ, cổ tử cung đóng kín để giữ thai trong buồng tử cung. Khi đến thời điểm sinh, cổ tử cung sẽ mở ra để em bé chào đời. Nếu cổ tử cung mở quá sớm, nguy cơ sảy thai hoặc sinh non sẽ xảy ra.
Cổ tử cung được xem là ngắn khi chiều dài ≤ 25 mm, đo bằng siêu âm đầu dò âm đạo.
Theo khuyến cáo mới nhất của Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ, tất cả thai phụ IVF cần được đo chiều dài cổ tử cung thường quy ở tuần thai 18-22, kể cả khi không có yếu tố nguy cơ.
Thai phụ đa thai hoặc đơn thai có tiền sử sinh non, sảy thai lớn từ 14-27 tuần: Đo cổ tử cung từ tuần 14.
Thai phụ đơn thai có tiền sử sinh non 28-36 tuần: Đo cổ tử cung từ tuần 16.
Việc đo chiều dài cổ tử cung cần được thực hiện qua đường âm đạo bởi bác sĩ siêu âm có kinh nghiệm. Đo qua đường bụng có thể thực hiện nhưng không có giá trị tiên lượng và quản lý sinh non.
Thai phụ cần ghi nhớ:
- Mang thai IVF: Đo chiều dài cổ tử cung ở tuần 18.
- Có tiền sử sinh non hoặc sảy thai lớn 14-27 tuần, hoặc đa thai: Đo từ tuần 14.
- Đơn thai, tiền sử sinh non 28-36 tuần: Đo từ tuần 16.

Khâu vòng cổ tử cung
Khâu vòng cổ tử cung là thủ thuật dùng chỉ khâu đặc biệt để khâu vòng quanh cổ tử cung nhằm giữ cổ tử cung đóng kín, ngăn mở sớm khi thai chưa đủ khả năng sống. Thủ thuật thường được thực hiện ở tuổi thai 14–18 tuần, đôi khi có thể cân nhắc muộn hơn.
Chỉ định khâu vòng cổ tử cung thường áp dụng trong các trường hợp:
- Tiền sử sảy thai lớn hoặc sinh non trước 28 tuần.
- Nguy cơ hở eo cổ tử cung: Khoét chóp, cắt đoạn cổ tử cung.
- Chiều dài cổ tử cung < 25 mm trước 24 tuần kèm yếu tố nguy cơ sinh non hoặc hở eo cổ tử cung.
- Đa thai có cổ tử cung ≤ 25 mm.
- Thai kỳ trước đã từng khâu cổ tử cung, đặc biệt là khâu cấp cứu.
Khâu vòng cổ tử cung đạt hiệu quả tốt nhất khi thực hiện ở tuần 14-18. Sau 24 tuần, thủ thuật có nguy cơ vỡ ối cao hơn và có thể làm thai sinh sớm hơn. Trong một số trường hợp, khâu cổ tử cung có thể được thực hiện khẩn cấp khi cổ tử cung đã mở, tuy nhiên hiệu quả hạn chế và rủi ro cao.
Đặt progesterone dự phòng sinh non
Đối với thai phụ có nguy cơ sinh non nhưng chưa cần khâu vòng cổ tử cung, progesterone vi hạt đặt âm đạo hoặc hậu môn giúp giảm đáng kể tỷ lệ sinh non và cải thiện kết cục chu sinh.
Liều thường dùng 200-400 mg/ngày, tùy từng trường hợp. Thuốc được sử dụng từ khi xác định nguy cơ sinh non cho đến hết 36 tuần thai.
Trong thai kỳ IVF, progesterone dự phòng thường được sử dụng từ tuần thai thứ 14, sau giai đoạn nghỉ nội tiết tuần 12-14 nhằm giảm nguy cơ viêm nhiễm âm đạo.
Kết hợp progesterone và khâu vòng cổ tử cung
Nhiều hiệp hội sản phụ khoa trên thế giới hiện khuyến cáo kết hợp progesterone và khâu vòng cổ tử cung trong dự phòng sinh non. Phân tích gộp công bố năm 2023 cho thấy, phương pháp kết hợp này giúp giảm nguy cơ sinh non trước 37 tuần hiệu quả hơn so với chỉ khâu cổ tử cung hoặc chỉ đặt progesterone đơn thuần.


Bình luận